Bản tin Tây Giang
|
Viết bởi WebTâyGiang
|
|
Thứ tư, 25 Tháng 5 2011 09:40 |
Hướng tới kỷ niệm 121 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày trung tuần tháng 5 này, ở các đơn vị thôn trên địa bàn huyện Tây Giang không chỉ tràn ngập không khí vui tươi, phấn khởi chuẩn bị bước vào ngày Bầu cử Đại biểu Quốc Hội và HĐND các cấp mà sâu lắng hơn vẫn là những tình cảm của đồng bào C’tu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh... Tấm lòng của đồng bào C’tu đối với Bác Hồ. Trong căn nhà mới xây khang trang của mình, già làng uy tín Êđêl Đút, thôn Anoonh, xã Anông lặng thầm thắp nén nhang lên bàn thờ di ảnh Bác Hồ. Ông lầm rầm khấn nhỏ trong miệng những lời cảm ơn và gửi gắm mong ước của mình đến Người. Ông mong Người phù hộ cho dân làng Anonh ai nấy đều mạnh khỏe, lao động sản xuất giỏi để ổn định cuộc sống tại nơi ở mới. Khấn xong, ông quay lại nói với chúng tôi rằng: “Già năm nay 82 tuổi rồi; già chưa thấy ai tài giỏi như ama Hồ đâu. Nhờ có Ama Hồ mà đất nước mình được độc lập tự do. Ngày nay cũng nhờ có Ama Hồ và Đảng, Nhà nước nên làng mình được về nơi ở mới, con cháu mình được học cái chữ, được chăm sóc sức khỏe, được nâng cao đời sống tinh thần, vật chất... Nhà mình chỉ làm nương làm rẫy nên ngày sinh nhật của Ama Hồ, mình chỉ có đĩa trái cây gọi là của “cây nhà là vườn” dâng lên thắp hương cho Người”. Cách nói chân tình của già Đút làm chúng tôi hết sức cảm động. Đi đến 54 hộ dân ở thôn Anoonh, vào những ngôi nhà còn thơm mùi gỗ mới do vừa được chuyển về tái định cư, hộ nào cũng chăm lo, ưu tiên đặt bàn thờ Bác vào vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà. Cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác được bố trí trông thật thiêng liêng và thành kính. Từ lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt trong lòng đồng bào C’tu. Ông Bh’nước Honh, thôn R’cung, xã Bhalêê là một người đã từng “sưu tầm” ảnh Bác. Trong căn nhà gỗ khang trang của mình, ông Honh có được vài chục tấm ảnh, nhiều tấm ảnh màu trắng đen, được ông chú thích cụ thể chi tiết ở phía dưới. Nào là ảnh Bác Hồ tại Chiến dịch Biên giới, Bác Hồ với các cháu thiếu niên nhi đồng, Bác Hồ với đồng bào dân tộc thiểu số... Nhiều tấm ảnh do ông tỉ mỉ cắt lại từ các trang báo in mà ông được đọc. Đối với ông đây là không chỉ là sở thích sưu tầm ảnh mà là một niềm đam mê. Trước đây, là cán bộ xã Bhalêê, những kỷ vật được tặng trong quá trình công tác có hình của Bác, ông Honh cẩn thận cất đặt trong chiếc tủ kính. Từ khi về hưu, ông lại cùng bà con duy trì sinh hoạt cộng đồng, trở thành một trong những người có uy tín tại cộng đồng dân cư. Mỗi lần sinh hoạt cùng bà con, ông Honh không quên kể những câu chuyện về cuộc đời của Bác. Xuất phát từ niềm tin sắt đá đối với Bác nên trong đời sống hàng ngày, đồng bào cũng luôn mong muốn làm theo tấm gương đạo đức của Người. Nhiều già làng trưởng thôn dù tuổi cao nhưng vẫn tận tâm, tận lực, mang niềm đam mê của mình, thổi hồn vào những công trình của cộng đồng làng như điêu khắc Gươl, làm làng truyền thống, bảo tồn các giá trị văn hóa của cộng đồng người C’tu như Bác Bh’riu Pố, Bác Clâu Nâm, Clâu Nhất (xã Lăng), Bác Ker Tíc (xã Axan), Bác Clâu Blào (xã Tr’hy), Già Alăng Jeng (xã Avương)... Có những người dành nhiều thời gian, đầu từ vốn liếng công sức của cả gia đình mạnh dạn trồng hàng cả héc ta cây ba kích như Bác Bh’ríu Pố xã Lăng. Bác Pố khẳng định: “Động lực để chúng tôi vươn lên làm kinh tế cho bà con học tập là nhờ có cuộc vận động học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và nhờ vào các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng bào C’tu Tây Giang luôn dành tình cảm thành kính đối với Hồ Chủ Tịch. Người mãi mãi sống trong lòng của đồng bào C’tu”. Nguyễn Văn Thảo |
|
|
Viết bởi WebTâyGiang
|
|
Thứ tư, 25 Tháng 5 2011 09:36 |
Làm tốt công tác y tế tại Tây Giang Dù một huyện miền núi biên giới nhưng Tây Giang có hệ thống cơ sở y tế khá hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cho nhân dân. Trong nhiều năm trở lại đây cơ sở y tế, phương tiện kỹ thuật cũng như nhân lực từng bước được đầu tư nâng cao đảm bảo chất lượng phục vụ tốt nhất. Toàn huyện có 11 cơ sở y tế với 14 bác sỹ đạt tỷ lệ 9 bác sỹ/1 vạn dân, 07/10 trạm y tế có bác sỹ, 02 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia. Công tác kế hoạch hóa gia đình có nhiều tiến bộ, tỉ lệ sinh bình quân hàng năm giảm 1,32%, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 24,45%. Nguyễn Văn Thảo |
|
Viết bởi WebTâyGiang
|
|
Thứ ba, 13 Tháng 4 2010 08:15 |
|
Thưa bà con và các bạn! Khu 7- huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam là cách gọi của nhiều người để chỉ 4 xã biên giới A Xan, Ch’ơm, Tr’hy, Gary. Trước đây, giao thông cách trở, từ trung tâm huyện muốn lên khu 7 phải mất vài ngày đi bộ. Còn bây giờ,thì khác rồi, xe ô tô có thể đến được trung tâm các xã. Tuyến đường giao thông liên xã dài gần 10 km được đầu tư 10 tỷ đồng từ nguồn vốn Nghị quyết 30a và Chương trình 135 kết hợp, triển khai thi công vào ngày 20/9/2009, vừa được hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng ngày 20 tháng 3 vừa qua, khi tuyến đường liên xã biên giới Việt Lào, huyện Tây Giang chính thức đưa vào sử dụng, với đồng bào Cơtu các xã khu 7 biệt lập là cả một quá khứ sôi động được gợi nhắc lại. Họ thực sự đổi đời với cái chân bước nhanh hơn trên con đường ngắn… Cuối tuần qua, ở vùng biên giới Việt-Lào có một hình ảnh cảm động: người thanh niên từng theo Clâu Bhlao phá rừng mở lối 28 năm trước nay trở thành lãnh đạo huyện, và lại tận tay trao tặng “huyền thoại mở đường” Clâu cuốn sổ tiết kiệm. Hai con người đang nhắc đến chính là Clâu Bhlao - người từng tìm ra con đường ngắn nhất từ các xã sát biên giới Việt-Lào xuống đến trung tâm huyện Hiên cũ, và Bhríu Liếc - Chủ tịch UBND huyện Tây Giang bây giờ. Chuyện của Clâu Bhlao đã trở nên quen thuộc, với kỳ tích rút ngắn tuyến đường từ 3 ngày đi bộ xuống còn 1 ngày, lại đứng ra vận động cán bộ và người dân làng Vòng (xã Tr'Hy), sau lan rộng ra các xã A Xan, Ch'Ơm… cắt rừng mở đường. Khi ấy, Clâu Bhlao đang là cán bộ y tế kiêm thông tin liên lạc của huyện cho ba xã vùng cao thuộc khu 7 cũ, và mới 31 tuổi. Cũng năm 1982 khi cả vùng nô nức mở “đường Clâu”, có chàng trai Bhríu Liếc tham gia. Xấp xỉ 30 năm sau, vẫn còn xúc động, ông Liếc chia sẻ với chúng tôi rằng: “Từ con đường của Clâu Bhlao vạch ra mà tôi và nhiều thanh niên vùng cao được đi học, rồi đi làm cán bộ”. Cuốn sổ trị giá 5 triệu đồng do doanh nghiệp đóng góp trao hôm thông tuyến liên xã, dĩ nhiên không thể mang ra để “đo đếm” công lao một huyền thoại như ông Clâu Bhlao. Con đường từ trung tâm huyện Tây Giang lên biên giới và thêm con đường liên xã này đưa vào sử dụng có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển Kinh tế xã hội của địa phương”. Ông Bhriu Liếc nói: Thông tuyến đường huyết mạch, từ xã A xan đến thôn Chanóc, xã Chaum, giáp với nước CHDCND Lào anh em – tiếp thêm một luồng sinh khí mới thiết thực và đầy ý nghĩa, kết nối 2 dân tộc Việt Nam và Lào - Quảng Nam và Sê Kông - Tây Giang và Ca Lừm, hơn bao giờ hết đoàn kết dựng xây biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Có thể hình dung, tuyến đường mang dấu ấn của Clâu Bhlao dài khoảng 28km, nối trung tâm huyện Hiên (cũ) lên đến xã Ch'Ơm. Từ đây, phải đi thêm 8km đường liên xã (vừa thông tuyến từ nguồn vốn Nghị quyết 30a và Chương trình 135 kết hợp) mới đến biên giới Việt - Lào. Mặc dầu vậy, như Chủ tịch UBND huyện Tây Giang Bhríu Liếc khẳng định, “nếu không có tuyến đường Clâu Bhlao mở, sẽ không có tuyến giao thông liên xã biên giới”! Vì thế, khi tuyến đường liên xã chính thức đưa vào sử dụng hôm 20-3, với đồng bào vùng Cơtu các xã khu 7 biệt lập là cả một quá khứ sôi động được gợi nhắc lại. Họ thực sự đổi đời với cái chân bước nhanh hơn trên con đường ngắn. Chị ALăng Thị Nhơ, ở thôn Chnóc, xã Ch’ơm vui mừng tâm sự “trước năm 2008, thôn bản chúng tôi chưa biết đường ôtô là gì, rất khó khăn trong việc đi lại. Mỗi lần đi lấy hàng từ Đông Giang lên, chúng tôi phải mang theo gần ang gạo để ăn giữa đường, đi hơn 10 ngày mới về được tới nhà. Bây giờ, nhờ Đảng và Nhà nước quan tâm tới đồng bào chúng tôi ở đây, mở đường cho chúng tôi dễ dàng trong việc đi lại, và nhân dân xã Chaum mới bắt đầu biết đường ôtô. Chúng tôi vui mừng không xiết khi được Đảng và Nhà nước mở cho con đường này, giống như tiếp thêm cho chúng tôi nhựa sống mới. Kể từ đây, chúng tôi có thể đi xe, không phải đi bộ như trước nữa; thuận lợi rất nhiều trong mọi sinh hoạt. Người dân chúng tôi cũng có cơ hội để ngồi “đếm” xe lên xuống, có cơ hội để biết xã hội đã thay đổi như thế nào từ khi giải phóng. Chúng tôi rất biết ơn Đảng và Nhà nước! ” Đề cập những con đường, cũ lẫn mới, vào dịp 35 năm- ngày giải phóng quê hương không chỉ để “miêu tả” về một sự kiện. Vượt lên trên hết là sức nghĩ, sức làm, tính quyết đoán và táo bạo. Văn hào Lỗ Tấn (Trung Quốc) từng viết rằng, "… kỳ thực, trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường mà thôi". Nhưng có những con đường ở xứ Quảng không đơn giản chỉ “đi mãi thì thành”. Phải có những con người nổi bật, những dự án lớn mới đủ sức khai phá./. Đình Hiệp-Thanh Hằng |
|
Viết bởi WebTâyGiang
|
|
Thứ năm, 01 Tháng 4 2010 08:51 |
|
Khác với các huyện miền núi thuộc dãi Trường Sơn, núi rừng Tây Giang được thiên nhiên ban tặng cho một loại tiêu có hương vị không thể lẫn vào bất kỳ mùi vị nào khác. Người dân bản địa nơi đây đặt tên cho loài cây này một cái tên dễ gọi, đúng với nguồn gốc của nó, đó là tiêu rừng - Amót.Amót có mặt trong nhiều món ăn của đồng bào. Mùa nào thức ấy, người vùng cao khi bắt được con cá liêng hay ăn thịt gà, thịt sóc, thịt chim, thịt chuột hoặc thịt heo ta, heo rừng đều cần đến Amót. Amót có thể nêm trực tiếp vào món ăn khi chế biến hoặc giã vài hạt để làm muối chấm. Với người Cơtu ở Tây Giang, đây là loại gia vị số một. Chỉ cần nêm một chút tiêu rừng vào bất kỳ món ăn gì thì món đó lập tức có mùi riêng ngay. Tiêu rừng cũng có vị cay nhẹ hơn ớt và tiêu thường, nhưng mùi thơm lại có sức tác động kỳ lạ. Nhiều người vốn kén ăn hoặc ăn ít nhưng khi chế biến thức ăn với tiêu rừng thì ăn tăng khẩu phần. Ama Bríu Pố - người cao tuổi xã Lăng cũng không thể nào lột tả được hết hương vị "khó tả" đặc trưng của tiêu rừng. Ông chỉ biết cái mùi thơm lạ lùng đó có sức hút kỳ lạ khi nhà ông tiếp đón bất kỳ một đoàn công tác nào dưới đồng bằng lên. Được đãi món tiêu rừng, từ các anh nhà báo, các nhà nghiên cứu văn hóa và nhiều bạn bè dù ở tận Hà Nội, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh đều viết thư, điện thoại trở lại với nhã ý nhờ ông kiếm giùm tiêu rừng để họ có cơ hội giới thiệu và đãi người thân. Những xứ sở xa xôi đó cũng được dịp để biết về tiêu rừng Tây Giang. Ngày nay, tiêu rừng có mặt ở hầu hết nhà hàng vùng cao, tạo nên chút hương rừng đất Quảng. Các chủ nhà hàng đến tận nhà dân, tìm mua bằng được hàng chục lon tiêu rừng, để dành chế biến món ăn. Các em học sinh, sinh viên dù học xa nhà, đều mang theo bên mình những ống muối tiêu rừng. Trong bữa cơm đạm bạc của các em, muối tiêu rừng có thể là thức ăn chính... Tiêu rừng không mọc tràn lan như các loài cây khác. Sự ra đời của cây tiêu rừng cũng hết sức độc đáo, riêng biệt. Theo kinh nghiệm của những người lớn tuổi tiêu rừng mọc rất thưa, chỉ thi thoảng có ở những sườn đồi mới được phát đốt gần như là lần đầu tiên và không phải ở bất kỳ đám nương rẫy nào giữa đại ngàn Trường Sơn cũng có. Cây tiêu mọc được, lại có vị thơm ngon nhất, thường ở xã Lăng và 4 xã khu 7 là Axan, Ch’ơm, Tr'hy, Gari. Người ta cũng chưa lý giải được tại sao ở các xã vùng trung, vùng thấp của huyện lại ít có cây tiêu rừng, dù ở đó vẫn có những đám rẫy được phát đốt lần đầu tiên.Nhiều người chỉ lờ mờ cho rằng, có lẽ tiêu rừng chỉ hợp với thổ nhưỡng từ xã Lăng lên khu 7. Khác với loài tiêu thường và ớt, cây thân gỗ này có chiều cao khoảng 10-15cm (cao hơn nóc nhà cấp 4) và đường kính lớn nhất khoảng 12-14cm. Lá tiêu rừng nhỏ, thân cây xanh trơn. Sau từ 2 đến 3 năm, cây cho quả vào khoảng tháng chín, mười. Quả tiêu rừng từ lúc non đến khi già đều có màu xanh, trông như cà phê, tiêu thường. Mỗi cành có vô số quả. Hàng năm, cây tiêu rừng cho 8-12kg hạt. Thân cây cũng có mùi thơm như quả, vì vậy mà nhiều người bản địa còn lột vỏ cây làm gia vị khi trong nhà hết quả tiêu khô dự trữ. Cách thức hái tiêu cũng rất khác biệt. Vì cây cao to, cành cây dai nên thường thì đàn ông trèo lên từng cành để trút. Khi đã hái về, đồng bào đem phơi khô rồi trữ vào trong vỏ quả bầu hoặc ống tre khô, có nắp đậy kín, để quanh năm trên gác bếp, gần mặt lửa. Làm như vậy tiêu rừng có thể để được quanh năm mà vẫn không bị bay mùi. Đặc điểm riêng của loại tiêu này là mọt không thể ăn được, để đến bao lâu vẫn còn nguyên hương vị. Amót - tiêu rừng đã tạo nên sự mặn mà riêng trong các món ăn hương rừng đất Quảng. Ẩm thực vùng cao có vị tiêu rừng ngon đến kỳ lạ. Được thưởng thức món cá liêng chiên vàng hoặc món thịt chim nướng, chấm với muối tiêu rừng thì… trên cả tuyệt vời. THU HIỀN |
|
Viết bởi WebTâyGiang
|
|
Thứ tư, 31 Tháng 3 2010 08:30 |
|
Có một gia đình người C’tu sống ở núi rừng Tây Giang không làm rẫy, không trồng lúa nước mà vẫn khá giả, với mức thu nhập bình quân mỗi năm từ 30-40 triệu đồng….. Không khó khăn gì khi muốn tìm gặp Bhling Tơn (một Đảng viên tiêu biểu của đảng bộ xã Bhalêê trong phong trào làm kinh tế giỏi) bởi gia đình anh hiện ở ngay trên tuyến đường về huyện, thuộc thôn Aung xã Bhalêê. Trong dãy nhà gỗ khang trang và quán Cà phê có tên “Thu Hà” do gia đình anh tạo dựng, hàng ngày vẫn có không ít khách hàng ra vào, mua bán trao đổi hàng hóa. Sinh năm 1977, Bhling Tơn còn khá trẻ với nước da đen và đôi mắt sáng, tư thế linh hoạt. Sau khi đi bộ đội về, Bhing Tơn xây dựng gia đình, tạo lập cuộc sống từ 2 bàn tay trắng. Khi vợ chồng ở riêng, bố mẹ anh chỉ có thể cho một chiếc kiềng và một chiếc nồi nấu cơm làm tài sản duy nhất. Phải dựng tạm một lều nhỏ để ở, những ngày tháng gian khó ấy tưởng chừng như quá sức vươn lên đối với một cặp vợ chồng người dân tộc thiểu số. Nghèo nhưng cái lòng của Bhling Tơn lại rất sáng. Ban đầu, anh vào rừng bứt mây, thu mua (mua chịu) của bà con trong thôn đem bán, lấy lời, góp nhóp dần dần. Khi có chút tiền từ thu hái mây rừng, Bhling Tơn lại đi mượn tấm tút của bà con mang đến Alưới để bán giùm, nhận tiền công của nhân dân trong làng. Với suy nghĩ: “ Họ có cơm ăn, mình phải được ăn cháo, chứ không thể ăn sắn, ăn bắp đói kém suốt đời”, Bhling Tơn đã dành dụm và mạnh dạn vay 30 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, hằng năm mua từ 7-10 con trâu, bò của nhân dân trong thôn, bán cho người đồng bằng. Có được những khoản tiền lời nhất định, anh lại tiếp tục xây dựng chuồng trại chăn nuôi 10 con heo và mua máy xay xát, xát lúa gạo cho bà con và mở cửa hàng bán tạp hoá, với đầy đủ các mặt hàng phục vụ nhân dân 2 thôn Aung và Agiốc xã Bhalêê. Năm 2008 đến nay, anh mở thêm quán café Thu Hà ngay tại diện tích đất ở của gia đình. Đây là một trong những quán Café đầu tiên của người dân tộc C’tu tại Tây Giang, được xây dựng với qui mô và kiểu cách hiện đại, trang trọng, trang trí đẹp mắt và khoa học. Với cách làm này, hiện tại, gia đình anh đã tạo việc làm lâu dài cho vợ con, không còn phải đi nương làm rẫy, đồng thời anh còn giúp một người em họ bán cafe cho gia đình với thu nhập mỗi tháng 800.000đ. Hằng năm, tổng thu nhập của gia đình Bhling Tơn đạt từ 30-40 triệu đồng, có điều kiện để mua sắm phương tiện xe máy, tủ lạnh, ti vi và chăm lo cho 3 đứa con đi học. Là một đảng viên trẻ trong chi bộ thôn (anh được kết nạp đảng vào năm 2002), Bhling Tơn luôn tích cực vận động nhân dân trong thôn làm kinh tế và nhận giúp đỡ gia đình Bhling Thị Nhái (cùng thôn) vươn lên làm giàu. Đến nay, hộ gia đình này đã mua sắm được may xay xát và mở được một của hàng tạp hóa, bán buôn tại thôn. Sau thất bại khi đầu tư làm cát sông, Anh Bhling Tơn quyết định trồng rừng vào năm 2003. Anh cho biết thêm “Mình không cho vợ con trồng sắn, trồng bắp, đốt rừng làm rẫy nữa, ngược lại đến nay mình đã trồng được 10 hécta keo tai tượng ngay rìa tuyến đường về huyện. Rừng keo đang phát triển tốt chỉ khoảng 1, 2 năm nữa thôi là sẽ có thu hoạch khoảng vài trăm triệu đồng”. Bhling Tơn được công nhận là hộ sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh của huyện, được bà con nhân dân thôn Aung quí trọng, tin yêu và học tập kinh nghiệm làm ăn. Anh xứng đáng là những người tiên phong trong phong trào phát triển kinh tế văn hóa xã hội của xã Bhalêê nói riêng và huyện Tây Giang nói chung. Thu Hiền
|
|
|
|
|
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 Tiếp theo > Cuối >>
|
|
Trang 1 của 7 |
|
|